Nhu cầu lốp xe và giá dầu thô cao sẽ giúp thị trường cao su "nóng" trở lại

Được viết: Thứ tư, 11 Tháng 4 2018

 

 
 
Nhu cầu lốp xe và giá dầu thô cao sẽ giúp thị trường cao su "nóng" trở lại

Việc giá cao su giảm kéo dài có thể là bước khởi đầu cho một giai đoạn tăng trong thời gian tới.


Thị trường chao đảo

Giá cao su thiên nhiên trong thời gian qua tiếp tục giảm do dư thừa nhiều, mặc dù các nước sản xuất chủ chốt thỏa thuận cắt giảm lượng xuất khẩu.

Theo thỏa thuận từ cuối tháng 12 năm ngoái, Thái Lan, Indonesia và Malaysia – chiếm 70% sả lượng toàn cầu - giảm xuất khẩu 350.000 tấn cho tới thời điểm 31/3/2018.

Như vậy, thời điểm hạn chế xuất khẩu đã qua, và có thể các nước sản xuất sẽ tăng xuất khẩu kể từ tháng này, trong bối cảnh nguồn cung vẫn thấp và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung có nguy cơ dìm giá xuống thấp nữa.

"Thị trường thiếu vắng những yếu tố có lợi cho giá tăng, mà việc xuất khẩu (của những nước sản xuất chủ chốt) trở lại bình thường sẽ gây áp lực giảm giá", Bloomberg dẫn lời chuyên gia Kazunori Kokubo thuộc công ty Yutaka Shoji Singapore Pte Ltd. cho biết.

Sự căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đang khiến thị trường cao su chao đảo. Trong mấy phiên gần đây, căng thẳng dịu lại đẩy giá tăng mạnh. Tuy nhiên, đây vẫn là yếu tố bất chắc lớn nhất trên thị trường và có thể đẩy giá tăng lên nhưng cũng có thể khiến giá giảm mạnh.

Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo, Thượng Hải và Singapore đã giảm hơn 20% trong năm vừa qua bởi sự thiếu chắc chắn về triển vọng tiêu thụ.

Sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu trong 2 tháng đầu năm 2018 tăng 4,3%, trong khi nhu cầu tiêu thụ chỉ tăng 0,8%, theo Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên.

Bán lẻ ô tô ở Trung Quốc, nước tiêu thụ nhiều cao su nhất thế giới, đã giảm 2,4% trong tháng 2, trong khi dự trữ tại các kho của sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 18 tuần liên tiếp.

"Do những quy định khắt khe hơn về môi trường, các hãng sản xuất lốp xe đang hoạt động ở công suất thấp, do đó nhu cầu cao su cũng bị ảnh hưởng", ông Shi Hai, nhà nghiên cứu cấp cao của Industrial Futures Co. cho biết. Tăng trưởng đầu tư cho cơ sở hạ tầng và sản xuất ô tô ở Trung Quốc cũng chậm lại.

Ông Shi dự báo giá cao su TSR20 kỳ hạn giao sau tại Thượng Hải có thể xuống chỉ 1 USD/kg trong 3 đến 6 tháng tới, so với mức 1,42 USD ngày 10/4/2018, do nguồn cung dư thừa. Cao su kỳ hạn trên sàn Tokyo cũng có thể xuống chỉ 140 JPY/kg, so với mức 183,5 JPY ngày 10/4, và loại hợp đồng này dù có thời điểm tăng giá cũng sẽ không vượt quá 200 JPY/kg.

Giám đốc marketing của Thai Hua Rubber, Korakod Kittipol, thì dự báo giá cao su tại Tokyo có thể giảm xuống 160 JPY/kg, còn cao su TSR20 có thể xuống chỉ 1,2 USD/kg.

Thị trường cao su cũng đang đánh giá khả năng các hãng sản xuất lốp xe Trung Quốc có thể bị kẹt giữa những mức thuế trả đũa nhau giữa Mỹ và Trung Quốc. Mỹ đã công bố một danh sách các mặt hàng dự định đánh thế cao ngất ngưởng khi nhập từ Trung Quốc, trong đó có lốp hơi (pneumatic) và lốp tỏa tròn (non-radial) mới và thay thế sử dụng cho máy bay; và Bắc Kinh cũng đã đáp trả bằng hành động tương tự.

Bloomberg dẫn lời nhà phân tích Takaki Shigemoto của JSC Corp cho biết: "Mỹ đã từng áp thuế đối với lốp xe Trung Quốc khi nhập khẩu tăng lên", và dự báo giá cao su tại Tokyo sẽ ở mức 140 JPY – 190 JPY trong vòng 3 tháng tới. Theo ông, "Nếu lần này Mỹ lại áp thuế với lốp xe Trung Quốc thì tác động sẽ rất tiêu cực".

Nhu cầu sẽ tăng lên và hỗ trợ cho giá

Tuy nhiên, việc giá cao su giảm kéo dài có thể là bước khởi đầu cho một giai đoạn tăng trong thời gian tới. Giá cao su hiện nay không khuyến khích được nông dân trồng cao su, những như công nhân thu hoạch mủ cao su, làm gia tăng lo ngại về sự thiếu thụ mủ cao su, ông Bundit Kerdvongbundit, phó chủ tịch Von Bundit Co. – một trong những hãng sản xuất và xuất khẩu cao su hàng đầu ở Thái Lan cho biết.

Thái Lan đang rất nỗ lực thúc đẩy tiêu thụ cao su trên thị trường trong nước. Theo Cơ quan Cao su Thái Lan, xuất khẩu cao su nước này năm 2018 có thể giảm 6% bởi tiêu thụ trong nước tăng, mặc dù sản lượng cao su có thể tăng 8,4% lên 4,8 triệu tấn.

 

Giám đốc marketing của Thai Hua Rubber, Korakod Kittipol, cho biết: "Bên cạnh hoạt động xuất khẩu, chúng tôi cần phải đi sâu vào thị trường trong nước khi thấy nguồn cung gia tăng".

Hãng Continental A.G. mới đây cũng phát đi cảnh báo tới các khách hàng rằng chi phí sản xuất lốp xe năm nay sẽ tăng nhiều do giá dầu, cao su tự nhiên và cao su tổng hợp đều tăng. Ngoài ra, chiến dịch làm sạch môi trường ở Trung Quốc khiến nhiều nhà máy phải đóng cửa cũng sẽ góp phần khiến chi phí lốp xe tăng lên.

Rubbernews dẫn tin từ hãng sontinental cho biết, giá butadiene – nguyên liệu chính sản xuất cao su tổng hợp – trung bình đã tăng 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Hãng này dự báo giá hàng hóa, nhất là cao su, sẽ tăng trở lại trong năm 2018.

Theo Continental, nhu cầu đối với lốp xe thay thế (cả tiêu dùng và thương phẩm) sẽ tăng 2%-3% trong năm 2018, nhất là ở châu Á – nơi sẽ đóng góp hơn một nửa mức tăng trưởng đó. Cụ thể, nhu cầu lốp thay thế cho xe tải nhẹ/xe con/xe khách sẽ tăng lên 1,25 tỷ chiếc, còn lốp xe tải vừa/nặng sẽ tăng lên 166,3 triệu chiếc. Vẫn như những năm qua, Trung Quốc sẽ tiếp tục là động lực của tăng trưởng trên thị trường lốp xe toàn cầu nhờ sự phát triển của thị trường xe hơi cá nhân. Nhu cầu dự báo cũng sẽ tăng ở Ấn Độ, Indonesia và Hàn Quốc. Nhìn chung, nhu cầu ở châu Á sẽ tăng trưởng khoảng 5%.

Continental cũng dự báo nhu cầu ở Bắc Mỹ sẽ sớm hồi phục. Dự báo nhu cầu lốp xe thay thế của người tiêu dùng sẽ tăng khoảng 1,8% lên 290 triệu chiếc, trong khi tiêu thụ lốp xe thương mại sẽ tăng 3,3% lên 25,3 triệu chiếc. Hiệp hội Sản xuất Lốp xe Mỹ mới đây dự báo nhu cầu lốp xe thay thế của Mỹ sẽ tăng 0,4% lên 210,6 triệu chiếc.

Về thị trường châu Âu, Continental dự báo Đông Âu sẽ chứng kiến nhu cầu lốp xe tiêu dùng thay thế tăng khoảng 25 lên 358 triệu chiếc. Còn tại Nam Mỹ, nhu cầu sẽ tăng mạnh 4%. Ngoài ra, hãng cho rằng nhu cầu lốp xe thương mại sẽ tăng ở tất cả các khu vực, trong đó mạnh nhất tại châu Á (chiếm gần một nửa).

Vân Chi

Theo Trí thức trẻ/Dịch tổng hợp

(DRI copy từ nguồn: http://cafef.vn/nhu-cau-lop-xe-va-gia-dau-tho-cao-se-giup-thi-truong-cao-su-nong-tro-lai-2018041115341815.chn)

Thủ tướng cho biết sẽ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 15-17%

Được viết: Thứ sáu, 06 Tháng 4 2018
Việt Nam đang nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh bằng việc tiếp tục thúc đẩy tiến trình cải cách chính sách thuế.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, sau khi đã giảm xuống mức 20% từ năm 2016, sẽ tiếp tục giảm còn 15-17%, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết trong bài phát biểu tại Diễn đàn thượng đỉnh kinh doanh tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS6) hôm 30.03.

Việt Nam là một trong những nước có thuế suất thuế nhu nhập doanh nghiệp thấp trong số các nền kinh tế trong khu vực châu Á, ngang bằng với Thái Lan, Đài Loan, Campuchia.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam nằm trong nhóm thấp trong số các nền kinh tế trong khu vực. Nguồn: KPMG

Mức thuế suất hiện hành của Việt Nam thấp hơn mức thuế trung bình 21,21% của khu vực châu Á, theo số liệu của công ty kiểm toán KPMG.

Việt Nam liên tục giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian qua, từ mức 28% vào năm 2004, giảm còn 25% vào năm 2009, 22% vào năm 2014 và gần đây nhất áp dụng thuế suất 20% bắt đầu từ năm 2016.

Xuất khẩu và triển vọng thị trường cao su đầu năm 2018

Được viết: Thứ năm, 01 Tháng 3 2018

Xuất khẩu cao su tháng đầu năm 2018 tăng cả lượng và trị giá so với cùng kỳ 2017, đặc biệt thị trường Anh và Thụy Điển tăng nhập khẩu cao su của Việt Nam.

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng đầu năm 2018 xuất khẩu cao su của Việt Nam tăng cả lượng và trị giá so với tháng 1/2017, tăng lần lượt 45,7% về lượng và 10,8% về trị giá, đạt tương ứng 135,7 nghìn tấn 198,6 triệu USD, nhưng so với tháng cuối năm 2017 giảm 19,8% về lượng và 18,8% về trị giá.

Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 01/2018 đạt bình quân 1.462,7 USD/tấn, tăng 1,2% so với tháng 12/2017 nhưng giảm 23,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chủ lực mặt hàng cao su của Việt Nam, lượng cao su xuất sang thị trường này chiếm 55,2% tổng lượng nhóm hàng đạt 74,9 nghìn tấn, trị giá 108,8 triệu USD chiếm 54,7% tổng kim ngạch, tăng 17,26% về lượng nhưng giảm 13,9% trị giá so với tháng 1/2017.

Thị trường xuất khẩu lớn tiếp theo là Malasyia và Ấn Độ, bởi lượng cao su xuất sang hai thị trường này đều tăng mạnh cả lượng và kim ngạch, đạt trên 100%. Cụ thể xuất sang Malasyia tăng 166,27% về lượng và 111,66% trị giá, đạt 11,6 nghìn tấn, 16,1 triệu USD. Xuất sang Ấn Độ đạt 10,8 nghìn tấn, trị giá 16,6 triệu USD, tăng 470,44% về lượng và 468,54% trị giá so với cùng kỳ.

Ngoài ba thị trường kể trên, cao su của Việt Nam còn được xuất khẩu sang các nước khác như: Nga, Pháp, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc)…

Nhìn chung, tháng đầu năm nay lượng cao su xuất khẩu sang các thị trường đều có tốc độ tăng trưởng, chiếm 89,2% trong đó xuất khẩu sang thị trường Anh và Thụy Điển tăng vượt trội, gấp hơn 10 lần về lượng và gấp 8 lần về trị giá. Ngược lại, thị trường với lượng xuất suy giảm chỉ chiếm 10,7% trong đó xuất sang thị phần Phần Lan giảm mạnh nhất 40,1% về lượng và 57,27% trị giá so với cùng kỳ 2017.

Xuất khẩu cao su tháng 1/2018

Tên thị trường Tháng 1/2018 So sánh cùng kỳ

năm 2017

Lượng

(tấn)

Trị giá (USD) Lượng

(%)

Trị giá

(%)

Tổng 135.797 198.633.904 45,7 10,8
Trung Quốc 74.992 108.833.739 17,26 -13,99
Malaysia 11.660 16.174.068 166,27 111,66
Ấn Độ 10.844 16.681.842 470,44 468,54
Hàn Quốc 4.627 7.188.898 34,23 -2,46
Đức 4.534 7.122.823 59,93 39,61
Hoa Kỳ 3.944 6.078.856 -0,55 10,26
Đài Loan 3.413 5.362.745 56,27 26,55
Thổ Nhĩ Kỳ 2.809 4.091.020 70,04 30,00
Italy 2.244 3.170.720 96,84 51,28
Tây Ban Nha 1.710 2.542.331 171,43 133,34
Indonesia 1.651 2.421.832 122,51 67,62
Bỉ 1.496 1.775.160 473,18 436,41
Nhật Bản 1.094 1.843.623 22,10 11,21
Nga 1.071 1.597.538 218,75 129,11
Pakistan 937 1.372.386 302,15 180,51
Hà Lan 791 1.023.799 -25,73 -38,67
Canada 577 932.768 121,07 94,92
Brazil 575 814.262 23,92 -13,68
Pháp 263 417.362 0,38 -24,57
Séc 262 421.949 215,66 250,45
Anh 222 345.772 1,010,00 716,73
Thụy Điển 202 301.392 910,00 640,10
Hồng Kông (Trung Quốc) 201 316.349 151,25 94,57
Mexico 191 239.736 3,80 -28,02
Achentina 141 228.211 135,00 94,14
Phần Lan 121 188.698 -40,10 -57,27
Singapore 20 33.415 81,82 42,49

(Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)

Theo Hiệp hội các quốc gia sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), năm 2017 sản lượng cao su tự nhiên thế giới ước tính đạt 13,3 triệu tấn, tăng so với mức 12,4 triệu tấn trong năm 2016, tương đương tăng 6,8%. 90% nguồn cung cao su tự nhiên của thế giới được sản xuất bởi các quốc gia trong Hiệp hội. Tiêu thụ cao su tự nhiên toàn cầu ước đạt 12,9 triệu tấn trong năm 2017, tăng 1,4% so với năm 2016.

Hiện Trung Quốc đang là nước tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới, theo thống kê của Hải quan Trung Quốc trong năm 2017, nhập khẩu cao su của Trung Quốc đạt 18,75 tỷ USD, tăng 36,7% so với năm 2016. Trong đó, Việt Nam đứng thứ 4 về cung cấp cao su cho Trung Quốc với kim ngạch tăng 57,8% so với năm 2016. Trong năm 2017, thị phần nhập khẩu cao su của Trung Quốc từ Việt Nam đã tăng lên đạt 8% so với mức 7,4% của năm 2016. Thị phần nhập khẩu cao su của Trung Quốc từ một số thị trường khác cũng tăng như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia…

Theo Vinanet

(Nguồn: https://thitruongcaosu.net/2018/03/01/xuat-khau-va-trien-vong-thi-truong-cao-su-dau-nam-2018/)

Kinh tế khởi sắc nhưng… đừng chủ quan, hứng khởi quá đà

Được viết: Thứ hai, 05 Tháng 3 2018

 

Kinh tế khởi sắc nhưng… đừng chủ quan, hứng khởi quá đà

Theo TS. Trần Thọ Đạt, kinh tế hiện nay đang dựa chủ yếu vào khu vực FDI chủ yếu là sản xuất gia công, chúng ta có thể sẽ rơi vào "bẫy giá trị thấp" trong quá trình chuyển dịch vị trí cuối của chuỗi sản xuất Đông Á về Việt Nam.

Kinh tế Việt Nam 2017 và  đầu năm 208 đã khởi sắc và nhiều ý kiến cho rằng đó là nền tảng vững mạnh để các tháng còn lại của năm nay tiếp tục bứt tốc. Tuy nhiên theo TS. Trần Thọ Đạt, hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế Quốc Dân, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, thì chúng ta cũng đừng quá tự tin, đừng quá lạc quan vào những gì đã đạt được, đừng vội ngủ quên trên chiến thắng mà quên đi các nhiệm vụ cần thực thi để duy trì đà tăng trưởng ấy.

Chúng tôi xin giới thiệu bài viết thể hiện góc nhìn của GS.TS. Trần Thọ Đạt về nền kinh tế 2018 để quý độc giả cùng theo dõi:

Kinh tế đã khởi sắc

Kinh tế Việt Nam năm 2017 đã có kết quả vượt mọi mong đợi và được đánh giá là khả quan nhất trong nhiều năm qua. Đây là năm mà nền kinh tế đã đạt và vượt toàn bộ 13 chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội, trong đó điểm sáng nhất là tăng trưởng kinh tế đạt 6,81%, là mức tăng cao nhất trong 7 năm trở lại đây. 

Qua 2 tháng đầu của năm 2018, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục chuyển biến mạnh mẽ và đạt được nhiều kết quả tích cực: sản xuất công nghiệp tăng 15,2%, gấp hơn 6 lần mức tăng cùng kỳ năm trước, khai khoáng tăng trở lại ở mức 5,7%, xuất khẩu tăng mạnh và nền kinh tế xuất siêu hơn 1 tỷ USD (so với cùng kỳ năm trước nhập siêu gần 50 triệu USD).

Một số chỉ tiêu khác như tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; khách quốc tế đến Việt Nam; vốn FDI thực hiện đều có mức tăng rất ấn tượng so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, trong 2 tháng đầu năm đã có trên 18.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 29,4% về số doanh nghiệp và 29,3% về vốn đăng ký và gần 7.000 doanh nghiệp hoạt động trở lại.

Phần lớn các dự báo hiện tại đang đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2018 sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi để duy trì tăng trưởng ở mức 6,6-6,8% và lạm phát thấp dưới 4% nhờ các yếu tố thuận lợi đến từ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới tốt hơn trong năm 2018, các dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp đang trên đà tăng, nhờ đó vẫn sẽ giữ nhịp để thu hút dòng vốn nước ngoài đang trong quá trình chuyển dịch vị trí cuối của chuỗi sản xuất Đông Á về Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân trong năm 2018 sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn so với các năm trước nhờ môi trường kinh doanh đã được cải thiện tốt hơn.

 Từ góc độ sản xuất, kinh tế năm nay dự kiến sẽ được thúc đẩy chủ yếu từ khu vực dịch vụ và sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến chế tạo. Ngành dịch vụ với tỷ trọng đến hơn 40% GDP vẫn được dự báo sẽ duy trì tốc độ gia tăng nhanh chóng và khu vực này sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế…

… Nhưng không chủ quan, hứng khởi "quá đà"

Tuy nhiên, thách thức của việc đảm bảo nền kinh tế thực sự bước vào một quỹ đạo tăng trưởng mới còn rất lớn, những tín hiệu khởi sắc ban đầu này cần được duy trì bằng các nỗ lực liên tục để cải thiện chất lượng tăng trưởng – là chìa khóa để nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và bền vững hơn. 

Nếu xét kỹ động lực và nguồn tăng trưởng trong năm được coi là khá thành công vừa qua, có thể thấy rất rõ nền kinh tế tăng trưởng vẫn dựa chủ yếu vào gia tăng tổng đầu tư và tăng trưởng tín dụng. Các chỉ số phản ánh chất lượng của các nguồn lực tăng trưởng còn khá thấp và chưa cải thiện rõ nét. Hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) vẫn ở mức cao hơn bình quân giai đoạn 2005-2010 và cao hơn so với các nước khác ở giai đoạn phát triển tương đương. Tốc độ tăng năng suất đang có xu hướng giảm dần và chưa đủ nhanh để giảm được cách biệt quá lớn về chênh lệch năng suất lao động với các nước trong khu vực. Xu hướng giảm tốc độ tăng TFP đã quay trở lại từ năm 2014. 

Và hiện tại, nền kinh tế cũng đang đối diện với các thách thức lớn.

 Thứ nhất, dư địa tác động của các chính sách tiền tệ và tài chính đang dần bị thu hẹp. Tăng trưởng tín dụng vẫn đang ở mức cao, gấp gần 3 lần tốc độ tăng trưởng, hệ thống tài chính ngân hàng vẫn đang đối diện với vấn đề nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn còn mỏng. Trong khi đó, rủi ro thâm hụt ngân sách và nợ công cũng khiến dư địa cho chính sách tài khóa không còn nhiều. Trên thực tế, cơ quan quản lý ngân sách vẫn đang "nỗ lực" tìm cách tăng thu thông qua các phương án tăng thuế suất mà chưa có giải pháp rõ ràng và toàn diện để chống thất thu, mở rộng cơ sở thu. Cơ cấu chi tiêu ngân sách vẫn đang ở tình trạng rất đáng lo ngại khi tỷ lệ chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách nhà nước trong 2 tháng đầu năm 2018 lại vọt lên 83,1%; trong khi chi đầu tư phát triển chỉ chiếm 4,2%. Sức ép lạm phát cũng đang lớn dần khi qua 2 tháng đầu năm, lạm phát đã ở mức 1,24% so với cuối năm 2017 – mức cao nhất 4 năm qua và cao hơn hẳn các nước trong khu vực.

Thách thức thứ hai là cần sớm có chiến lược và giải pháp định vị lại vai trò động lực tăng trưởng của các thành phần kinh tế. Nền kinh tế hiện nay đang dựa chủ yếu vào khu vực FDI chủ yếu là sản xuất gia công, chúng ta có thể sẽ rơi vào "bẫy giá trị thấp" trong quá trình chuyển dịch vị trí cuối của chuỗi sản xuất Đông Á về Việt Nam. Cần có các chính sách và giải pháp cụ thể và quyết liệt hơn thúc đẩy vai trò động lực quan trọng của khu vực tư nhân trong nước, trong bối cảnh khu vực nhà nước vẫn đang trong tình trạng thiếu hiệu quả. 

Đà tăng trưởng và khởi sắc ban đầu của nền kinh tế cần được tiếp tục ngay và quyết liệt hơn, cụ thể hơn thông qua các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh, thực thi ngay các giải pháp thực chất hướng đến doanh nghiệp để giảm chi phí đầu vào, tháo gỡ các rào cản hạn chế khả năng tiếp cận và gia tăng chi phí tiếp cận các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, cơ sở hạ tầng và logistics) và chi phí khi thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, để từ đó xây dựng động lực tăng trưởng cho nền kinh tế một cách bền vững.

GS.TS. Trần Thọ Đạt - Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

Theo Trí thức trẻ

(Nguồn DRI copy: http://cafef.vn/kinh-te-khoi-sac-nhung-dung-chu-quan-hung-khoi-qua-da-20180305101341429.chn)

Tháng 2/2018, Việt Nam xuất khẩu 48 nghìn tấn cao su, giá trị đạt 72 triệu USD

Được viết: Thứ năm, 01 Tháng 3 2018

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, trong tháng 2/2018, khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam ước đạt 48 nghìn tấn với giá trị đạt 72 triệu USD. Với giá trị này, khối lượng xuất khẩu cao su 2 tháng đầu năm 2018 ước đạt 184 nghìn tấn và 271 triệu USD, tăng 0,4% về khối lượng nhưng giảm 27% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Giá cao su xuất khẩu bình quân tháng 1 năm 2018 đạt 1.463 USD/tấn, giảm 23,9% so với cùng kỳ năm 2017. Trung Quốc, Ấn độ và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong tháng 1 năm 2018, chiếm thị phần lần lượt 54,8%, 8,4% và 8,1%.

THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHÍNH CỦA CAO SU VIỆT NAM THÁNG 1 NĂM 2018

Đơn vị: Lượng = tấn; Giá trị = 1.000 USD

Thứ tự Mặt hàng/Tên nước Tháng 1/2017 Tháng 1/2018 % 2017/2016 Thị phần (%)
Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị 2016 2017
  Cao su 93,223 179,207 135,797 198,634 145.7 110.8 100.0 100.0
1 TRUNG QUỐC 63,444 125,513 74,992 108,834 118.2 86.7 70.0 54.8
2 ẤN ĐỘ 1,292 1,307 10,844 16,682 839.3 1276.4 0.7 8.4
3 MALAIXIA 4,379 7,641 11,660 16,174 266.3 211.7 4.3 8.1
4 HÀN QUỐC 3,387 7,246 4,627 7,189 136.6 99.2 4.0 3.6
5 ĐỨC 2,835 5,102 4,534 7,123 159.9 139.6 2.8 3.6
6 HOA KỲ 3,845 5,355 3,944 6,079 102.6 113.5 3.0 3.1
7 ĐÀI LOAN 2,144 4,145 3,413 5,363 159.2 129.4 2.3 2.7
8 THỔ NHĨ KỲ 1,652 3,147 2,809 4,091 170.0 130.0 1.8 2.1
9 ITALIA 1,140 2,096 2,244 3,171 196.8 151.3 1.2 1.6
10 TÂY BAN NHA 630 1,090 1,710 2,542 271.4 233.3 0.6 1.3

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng  2/2018  đạt 36 nghìn tấn với giá trị đạt 63 triệu USD, đưa tổng khối  lượng và giá trị cao su nhập khẩu 2 tháng đầu năm đạt 96 nghìn tấn với giá trị 166 triệu USD, tăng 20,8% về khối lượng và tăng 1,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

 Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong tháng 1 năm 2018 là Hàn Quốc, Campuchia, Thái Lan và Nhật Bản, chiếm 54,2% thị phần. Trong tháng  1  năm 2018, giá trị cao su ở hầu hết  các thị trường nhập khẩu chính  đều tăng ngoại trừ thị trường Nga và Indonesia với mức giảm   lần lượt là 50,2% và 13,3%. Trong đó, thị trường có giá trị tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2017 là Malaixia (gấp  3,3  lần), Thái Lan (+86,9%) và Trung Quốc (+78,7%).

NGUỒN NHẬP KHẨU CAO SU CHÍNH CỦA VIỆT NAM THÁNG 1 NĂM 2018

Đơn vị: Lượng = tấn; Giá trị = 1.000 USD

Thứ

tự

Mặt hàng/Tên

nước

Tháng 1 năm 2017 Tháng 1 năm 2018 % 2018/2017 Thị phần (%)
Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị 2017 2018
  Cao su 38,094 73,986 60,665 103,891 159.3 140.4 100.0 100.0
1 HÀN QUỐC 6,908 15,468 10,054 18,969 145.5 122.6 20.9 18.3
2 CAMPUCHIA 7,302 14,376 10,762 15,458 147.4 107.5 19.4 14.9
3 THÁI LAN 3,731 5,894 7,324 11,016 196.3 186.9 8.0 10.6
4 NHẬT BẢN 3,668 8,249 4,811 10,813 131.2 131.1 11.1 10.4
5 ĐÀI LOAN 3,314 6,045 4,122 8,075 124.4 133.6 8.2 7.8
6 TRUNG QUỐC 1,782 4,074 3,589 7,278 201.4 178.7 5.5 7.0
7 MALAIXIA 1,067 1,477 2,814 4,857 263.7 328.8 2.0 4.7
8 INĐÔNÊXIA 2,594 4,717 2,270 4,088 87.5 86.7 6.4 3.9
9 HOA KỲ 1,264 2,714 1,272 2,806 100.6 103.4 3.7 2.7
10 NGA 900 1,864 524 927 58.2 49.8 2.5 0.9

Nguồn: Trung tâm Tin học & Thống kê Bộ NN&PTNT

(DRI copy từ nguồn: https://thitruongcaosu.net/2018/02/28/thang-2-2018-viet-nam-xuat-khau-48-nghin-tan-cao-su-gia-tri-dat-72-trieu-usd/)

Trụ sở chính

Công ty cổ phần đầu tư cao su Đắk Lắk (DRI)
Địa chỉ: 30 Nguyễn Chí Thanh- TP.Buôn Ma Thuột - Tỉnh Đắk Lắk - Việt Nam
Tel: (84-262) 3 867 676; Fax: (84-262) 3 865 303;
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Website: www.dri.com.vn

Công ty con

Công ty TNHH cao su Đắk Lắk (DAKLAORUCO)
Địa chỉ: Nhà số 236 đường số 11, Bản Tha Luống , Huyện Paksế, Tỉnh Champasak, Lào PDR.
Tel: 00 (856) 31 212570; Fax: 00 (856) 31 252982
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Website: www.daklaoruco.com